Thúc đẩy công nghiệp văn hóa: Cần một “cú huých" về chính sách

Sau 12 năm triển khai, công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, song tỷ trọng đóng góp vào GDP vẫn còn khoảng cách so với mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo một “cú huých” chính sách, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và tạo động lực để công nghiệp văn hóa Việt Nam bứt phá.

Hội tụ nhiều điều kiện để phát triển

Công nghiệp văn hóa chính thức được xác định trong Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Qua hơn một thập kỷ triển khai, Việt Nam đang hội tụ nhiều nguồn lực và điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp văn hóa, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa năng động trong khu vực. Đó là kho tàng di sản và tài nguyên văn hóa phong phú, giàu bản sắc; nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, có khả năng sáng tạo; thị trường tiêu dùng văn hóa nội địa rộng lớn, năng động.

Thúc đẩy phát triển Công nghiệp Văn hóa, cần cú huých về chính sách (Ảnh: ST)

Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân cùng hạ tầng chuyển đổi số đang mở ra không gian phát triển mới. Nhiều doanh nghiệp chủ động đầu tư vào các tổ hợp nghệ thuật, không gian sáng tạo, chuỗi sản phẩm văn hóa và nền tảng phân phối số. Cùng với đó, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Blockchain và các công nghệ mới đang tạo thêm những phương thức sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa.

Tuy nhiên, tiềm năng lớn chưa đồng nghĩa với khả năng phát triển tương xứng. Tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam giai đoạn 2018-2025 ước đạt khoảng 4-5%, còn khá xa so với mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030. Khoảng cách này cho thấy cần có những giải pháp mang tính đột phá, trong đó hoàn thiện thể chế được xác định là một trong những yếu tố then chốt.

Những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ

Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu tính đồng bộ và chưa hình thành một khung khổ pháp lý thống nhất cho hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Các luật chuyên ngành như: Điện ảnh, di sản văn hóa, quảng cáo, xuất bản, sở hữu trí tuệ... chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực riêng lẻ, trong khi công nghiệp văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở liên kết nhiều ngành, nhiều chủ thể trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Một trong những điểm nghẽn đáng chú ý là việc khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ. Pháp luật hiện hành chủ yếu tập trung vào xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong khi chưa tạo được đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc định danh, lập hồ sơ, định giá, giao dịch và sử dụng tài sản trí tuệ như một loại tài sản có thể huy động nguồn lực tài chính. Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư và gia tăng giá trị kinh tế của các sản phẩm sáng tạo.

Nguồn nhân lực cũng là vấn đề cần được quan tâm. Sự phát triển của công nghiệp văn hóa đòi hỏi đội ngũ nhân lực không chỉ có năng lực sáng tạo mà còn am hiểu công nghệ, thị trường, quản trị, truyền thông và kinh doanh quốc tế. Trong khi đó, các cơ chế về đào tạo, phát triển, thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.

Bên cạnh đó, nhiều mô hình hạ tầng mới như tổ hợp sáng tạo, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, không gian sáng tạo, hạ tầng văn hóa số, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia... đang từng bước hình thành nhưng chưa có cơ sở pháp lý thống nhất về tiêu chí, cơ chế đầu tư, quản lý, khai thác và chính sách ưu đãi. Điều này hạn chế khả năng huy động nguồn lực xã hội, nhất là nguồn vốn tư nhân và đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Thị trường và doanh nghiệp công nghiệp văn hóa cũng cần những cơ chế đặc thù hơn về đầu tư, tài chính, tín dụng, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, xuất khẩu sản phẩm văn hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa – “Luật kiến tạo”

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số xuyên biên giới, yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý cho công nghiệp văn hóa càng trở nên cấp thiết. Không chỉ tạo điều kiện để các chủ thể sáng tạo phát triển, chính sách còn phải góp phần bảo vệ thị trường nội địa, bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà sản xuất nội dung trong nước, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Sự gia tăng của các sản phẩm văn hóa ngoại lai với lợi thế về công nghệ, tài chính và khả năng phân phối toàn cầu đang đặt ra sức ép cạnh tranh ngày càng lớn. Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện về tăng trưởng kinh tế mà còn gắn chặt với bảo tồn, phát huy bản sắc và nâng cao sức mạnh mềm văn hóa của quốc gia.

Từ yêu cầu thực tiễn đó, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Đây cần được nhìn nhận là một “Luật kiến tạo” – không chỉ tháo gỡ những điểm nghẽn, làm rõ những điểm còn chưa thống nhất mà còn bổ sung các khoảng trống pháp lý để khơi thông nguồn lực xã hội, giải phóng sức sáng tạo và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, nghệ sĩ, người sáng tạo và các chủ thể văn hóa phát triển.

Mục tiêu cuối cùng là gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ; hình thành các chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh; mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.

Việt Nam có lợi thế đặc biệt về tài nguyên văn hóa, con người và thị trường. Vấn đề đặt ra hiện nay không còn là chúng ta có tiềm năng hay không, mà là làm thế nào để chuyển hóa những tiềm năng đó thành giá trị kinh tế, thành sản phẩm có thương hiệu và sức cạnh tranh quốc tế.

Một hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại và có tính kiến tạo sẽ là nền tảng quan trọng để thực hiện quá trình chuyển đổi đó. Khi các nguồn lực được khơi thông, tài sản trí tuệ được khai thác hiệu quả, doanh nghiệp được tạo điều kiện phát triển và sức sáng tạo được giải phóng, công nghiệp văn hóa sẽ có thêm động lực để phát triển nhanh và bền vững.

Từ những giá trị văn hóa bản địa, bằng năng lực sáng tạo và công nghệ hiện đại, Việt Nam có thể tạo ra những sản phẩm mang bản sắc Việt nhưng có khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu. Đây chính là con đường để công nghiệp văn hóa không chỉ trở thành ngành kinh tế mới mà còn trở thành một động lực tăng trưởng, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và vị thế quốc gia.

HP

 

Ảnh trong bài
  • Thúc đẩy công nghiệp văn hóa: Cần một “cú huých" về chính sách
  • Thúc đẩy công nghiệp văn hóa: Cần một “cú huých" về chính sách