Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026 đang tiến sát những mốc thời gian quan trọng với quy mô lớn chưa từng có, quy tụ khoảng 12.000 cán bộ, HLV, VĐV và 2.000 trọng tài đại diện cho 36 đoàn, gồm 34 tỉnh, thành phố cùng hai ngành Công an và Quân đội tranh tài tại 34 địa điểm với tổng cộng 48 môn thể thao và 973 nội dung huy chương.

Các VĐV tập luyện cùng thiết bị
Trong bức tranh toàn cảnh ấy, Thành phố Hồ Chí Minh với tư cách là địa phương đăng cai chính sau đúng 20 năm kể từ lần gần nhất tổ chức sự kiện này đang gánh vác trách nhiệm "kép": Vừa đảm bảo tổ chức thành công ngày hội thể thao lớn nhất cả nước; vừa giữ vững tốp đầu bảng tổng sắp huy chương. Để đạt được mục tiêu đặt ra, ngành thể thao thành phố đã đặt chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ làm trụ cột chiến lược nhằm đổi mới căn bản từ phương thức quản lý điều hành đến quy trình huấn luyện chuyên môn.
Bên cạnh công tác quản lý và tổ chức giải đấu, chiều sâu chuyên môn của thể thao thành tích cao tại thành phố chủ nhà còn được nâng tầm nhờ làn sóng ứng dụng khoa học công nghệ đỉnh cao tại các trung tâm huấn luyện. Thời kỳ tuyển VĐV dựa thuần túy vào kinh nghiệm quan sát bằng mắt thường hay cảm tính của HLV đã được thay thế hoàn toàn bằng hệ thống sàng lọc và tuyển chọn tài năng dựa trên các chỉ số sinh học chuyên sâu ngay từ khâu đầu vào. Thông qua các thiết bị quét hiện đại trong hệ sinh thái chuẩn bị cho Đại hội, hệ thống đo lường toàn diện các đặc trưng di truyền, hình thái nhân trắc học, độ nhạy phản xạ thần kinh và tâm lý thi đấu của các VĐV trẻ sẽ giúp ban huấn luyện sớm phân loại tố chất, định hướng chính xác cự ly hoặc nội dung sở trường ngay từ vạch xuất phát, rút ngắn tối đa thời gian đào tạo thử nghiệm và khai thác tối đa tiềm năng bẩm sinh của từng cá nhân dưới sự chủ trì của phòng khoa học và y học thể thao thuộc Trung tâm huấn luyện và thi đấu TDTT Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo bác sĩ Phạm Thanh Nghị, Trưởng phòng khoa học và y học thể thao, thách thức lớn nhất trong giai đoạn đầu là việc đầu tư các thiết bị khoa học thể thao đòi hỏi phải được trang bị đồng bộ để phục vụ quá trình kiểm tra, đánh giá và huấn luyện trong bối cảnh lĩnh vực này còn tương đối mới tại Việt Nam. Từ những ngày đầu hoạt động chủ yếu dựa vào sức người và sự kiên trì của đội ngũ nhân sự trước khi thiết bị được bổ sung dần, hiện nay phòng không chỉ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao thành tích mà còn trực tiếp tham gia sâu vào quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV, xây dựng giáo án, tổ chức tập luyện và kiểm tra thể trạng để cung cấp dữ liệu giúp các huấn luyện viên đánh giá, điều chỉnh chương trình phù hợp với từng cá nhân với quan điểm thể thao thành tích cao không thể tách rời khoa học công nghệ.
Quá trình tập luyện nâng cao thành tích của các đội tuyển cũng được giám sát nghiêm ngặt dưới hệ thống cảm biến quang học, thiết bị đo nhịp tim chuyên sâu và các dàn máy đo tốc độ điện tử đa điểm có độ chính xác đến phần nghìn giây. Kết hợp cùng camera phân tích sinh cơ học tốc độ cao, hệ thống cho phép bóc tách chi tiết từng thông số nhỏ như thời gian phản xạ xuất phát khi rời bàn đạp, tần số bước chạy, độ dài sải chân cho đến giai đoạn đạt vận tốc tối đa để loại bỏ sai số lớn của phương pháp bấm giờ thủ công, giúp ban huấn luyện giải mã chính xác nguyên nhân khi một VĐV bị chững lại về thành tích và phân định rõ thời điểm cần can thiệp y tế phục hồi hay thời điểm cơ thể đã chạm ngưỡng giới hạn sinh lý đòi hỏi phải tái cấu trúc toàn bộ giáo án.
Sự đầu tư bài bản này được thể hiện rõ qua công tác chuẩn bị tại các bộ môn trọng điểm, điển hình như đội tuyển Cử tạ đang tập trung hoàn thiện thể lực và kỹ thuật tại Nhà tập luyện thể thao Phú Thọ, hay đội tuyển Bắn cung tập luyện tại Nhà tập luyện thể thao Phú Thọ và sân Lam Sơn để chủ động thích nghi với điều kiện gió và thời tiết thực tế dưới sự hỗ trợ của các trang thiết bị hiện đại.
Để tạo ra nguồn lực tổng hợp và giải quyết những bài toán thực tế trong huấn luyện, mô hình hợp tác gồm cơ sở thể thao, giới khoa học và doanh nghiệp đã được Thành phố Hồ Chí Minh chủ động đẩy mạnh thông qua việc kết nối với khoảng 6 bệnh viện và 4 tổ chức khoa học công nghệ, đồng thời hợp tác với các đối tác để triển khai các dự án nghiên cứu chuyên sâu phục vụ trực tiếp cho lực lượng tham gia thi đấu. Định hướng nhất quán là phân định rõ giữa thỏa thuận hợp tác trên giấy tờ và kết quả thực tiễn đã được kiểm chứng, đòi hỏi tính độc lập khoa học, bảo mật tuyệt đối dữ liệu sức khỏe của VĐV và đặt trọng tâm vào việc chuyển giao tri thức, đào tạo đội ngũ tại chỗ thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào chuyên gia bên ngoài nhằm nâng tầm năng lực lâu dài cho thể thao thành phố.
Bên cạnh nhiệm vụ nâng cao thành tích đỉnh cao, việc hỗ trợ HLV phát hiện sớm nguy cơ chấn thương, rút ngắn thời gian phục hồi để VĐV không bị gián đoạn quá trình đào tạo cũng là một nội dung quan trọng. Theo bác sĩ Phạm Thanh Nghị, điểm khác biệt của y học thể thao không chỉ nằm ở việc giúp người bị chấn thương trở lại sinh hoạt bình thường mà còn tìm cách hạn chế nguy cơ tái chấn thương, qua đó đóng góp thiết thực vào sức khỏe lâu dài.
Sự chuẩn bị toàn diện từ hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ điều hành, hệ thống sàng lọc tài năng bằng sinh trắc học, các thiết bị giám sát thời gian thực đến mô hình hợp tác nghiên cứu khoa học chính là minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của thể thao Thành phố Hồ Chí Minh trong hành trình hướng tới mục tiêu tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Sự kiện này không chỉ là dịp đánh giá chất lượng đào tạo và tuyển chọn lực lượng kế cận, mà còn đóng vai trò là phép thử quan trọng để đặt nền móng vững chắc cho thể thao Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và thể thao nước nhà nói chung tiệm cận các phương thức tổ chức chuyên nghiệp, hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lai.
Hiếu Minh, ảnh vietnam.vn