Xuất phát từ thực tế đó, từ năm 2002 chương trình phổ cập bơi, phòng chống đuối nước trẻ em tỉnh Đồng Tháp được triển khai bắt đầu từ các Kế hoạch phối hợp liên ngành hàng năm do Sở Thể dục Thể thao (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chủ trì thực hiện đạt kết quả bước đầu. Sau mỗi giai đoạn thực hiện tiến hành tổng kết đánh giá đề ra chương trình thực hiện tiếp theo trên cơ sở Kế hoạch của UBND tỉnh chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành các cấp trên địa bàn chung tay thực hiện, đến nay rất phù hợp với chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Kết quả Giai đoạn từ năm 2002 – 2010: Đồng Tháp đã mở được 2.614 lớp dạy bơi cho 83.526 trẻ em theo học và biết bơi từ 25m trở lên, đạt tỷ lệ 36% trên tổng số trẻ (trong độ tuổi từ 7 đến 15); có trên 3.000 lượt hướng dẫn viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phổ cập bơi; trang bị 37 lồng bơi bằng ống nhựa và inox hỗ trợ cho địa phương. Tổng kinh phí thực hiện là 9.255.114.000đ (trong đó ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã 2.390.444.000đ; kinh phí vận động xã hội hóa 6.864.670.000đ).
Giai đoạn từ năm 2011 – 2015: Toàn tỉnh mở được 4.468 lớp, dạy cho 115.248 em biết bơi, đạt tỷ lệ 51,20% trên tổng số trẻ; có gần 2.000 lượt hướng dẫn viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phổ cập bơi; trang bị 07 lồng bơi bằng ống nhựa và inox, lắp đặt 11 hồ bơi bằng composite… xây dựng 06 bể bơi bằng bê tông cốt thép hỗ trợ cho địa phương. Tổng kinh phí thực hiện là 9.130.394.000đ (trong đó ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã là 6.772.394.000đ; kinh phí vận động xã hội hóa 2.358.000.000đ).
Giai đoạn từ năm 2016 – 2020 tiếp tục thực hiện Chương trình có bổ sung mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Về kinh phí hỗ trợ cho cấp huyện mở lớp phổ cập bơi là 720.000/lớp, tăng 240.000đ/lớp so với giai đoạn trước (giai đoạn 2012 – 2015 là 480.000đ/lớp), ngoài ra các địa phương còn chi hỗ trợ thêm kinh phí và vận động từ các tổ chức, cá nhân để thực hiện mở lớp.
Về cơ sở vật chất những năm đầu thực hiện chương trình các lớp bơi ở cơ sở phần lớn được dạy trên các sông, rạch, bằng lồng bơi bằng tre tự chế và lồng bơi bằng ống nhựa, inox nên chất lượng giảng dạy chưa cao, không đảm bảo sức khỏe các em. Năm 2014 nhận thấy các lồng bơi không còn phù hợp, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xin chủ trương Ủy ban nhân dân tỉnh chuyển đổi sang hồ bơi bằng composite và bê tông cốt thép. Ngoài số hồ bơi này, các địa phương trong tỉnh còn vận động các cá nhân, tổ chức xây dựng được 14 hồ bơi bằng bê tông, 20 hồ bơi đơn giản vừa mở lớp dạy bơi ở địa phương vừa làm dịch vụ.
Với những kết quả đạt được như trên Đồng Tháp được đánh giá là một trong những tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long thực hiện tốt Chương trình phổ cập bơi, phòng chống đuối nước trẻ em. Chương trình ngày càng đem lại hiệu quả xã hội tích cực, được đông đảo người dân đồng tình. Số trẻ em bị đuối nước trung bình hàng năm giảm, nếu giai đoạn 2002 – 2010 bình quân mỗi năm có 63,5 em bị đuối nước thì giai đoạn 2011 – 2015 sau khi thực hiện phổ cập bơi số trẻ em bị đuối nước giảm xuống còn 46,8 em mỗi năm.
Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, giúp người dân nhận thức rõ tác hại của đuối nước trẻ em và tự nguyện đưa con em tham gia học bơi, học kỹ năng thoát hiểm khi xảy ra nguy cơ đuối nước.
Xây dựng mạng lưới hướng dẫn viên, cộng tác viên bơi an toàn phòng chống đuối nước mà đối tượng chính là giáo viên thể dục ở các trường phổ thông, đoàn viên thanh niên, chiến sĩ bộ đội biên phòng để làm hạt nhân thực hiện Chương trình bơi an toàn từ thành thị đến vùng sâu, vùng biên giới.
Nhà nước dành một phần kinh phí đầu tư hồ bơi, mở lớp bơi, và thực hiện chế độ chính sách cho những người tham gia chương trình. Đẩy mạnh xã hội hóa, vận động các tổ chức và cá nhân ủng hộ chương trình bằng tiền hoặc vật chất trang thiết bị dụng cụ tập bơi, đầu tư xây dựng hồ bơi.
Đầu tư hồ bơi trong trường học, Trung tâm Văn hóa học tập công đồng cấp xã. Đối với cụm trường ở thành thị giao thông thuận tiện có thể đầu tư hồ bơi di động bằng công nghệ cao, đồng thời với việc đầu tư hồ bơi bằng bê tông cốt thép sẽ tạo điều kiện cho các em được học bơi trong điều kiện an toàn, đảm bảo tốt sức khỏe, từ đó các bậc phụ huynh an tâm hơn khi cho con em tham gia các lớp học bơi. Theo kết quả khảo sát trẻ em chưa biết bơi của Đồng Tháp mới đây tại 329 trường Tiểu học và 142 trường Trung học cơ sở trên toàn tỉnh, trong tổng số 238.518 em, có 107.740 em chưa biết bơi, chiếm 45,17% (cấp tiểu học tổng số 148.503 em, có 87.305 em không biết bơi; cấp trung học cơ sở, tổng số 90.015 em, có 20.435 em không biết bơi). Qua đó cho thấy số trẻ em chưa biết bơi còn khá lớn, việc tiếp tục triển khai Chương trình bơi an toàn trong thời gian tới là hết sức cần thiết. Để thực hiện hiệu quả vấn đề này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất các giải pháp trọng tâm như sau:
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Triển khai Chương trình bơi an toàn cho trẻ em một cách sâu rộng trong nhân dân, đưa chương trình dạy bơi vào học đường, nâng cao chất lượng và đảm bảo an toàn các lớp bơi từ tỉnh đến cơ sở. Thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện.
Hàng năm trên cơ sở Kế hoạch 5 năm của Ủy ban nhân dân Tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Kế hoạch mở lớp phổ cập bơi, giao chỉ tiêu và phân bổ kinh phí mở lớp cho địa phương và đưa vào là tiêu chí thi đua, song song đó tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về lợi ích của việc học bơi nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về nguy cơ đuối nước trẻ em.
Từng bước phối hợp với Ngành Giáo dục Đào tạo đưa môn bơi vào chương trình giảng dạy thể dục bắt buộc đối với các trường tiểu học có điều kiện. Phổ cập bơi đầu vào lứa tuổi tiểu học thường xuyên, liên tục để khi hết cấp học các em đều biết bơi, biết kỹ năng phòng chống đuối nước.
Tiếp tục cử cán bộ nòng cốt tham dự các tập huấn hướng dẫn viên bơi an toàn do Tổng cục Thể dục Thể thao mở; củng cố mạng lưới hướng dẫn viên, cộng tác viên làm công tác huấn luyện, hướng dẫn bơi an toàn ở cơ sở; thường xuyên mở lớp bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, kỹ năng phòng chống đuối nước cho đối tượng này.
Nghiên cứu thêm các mẫu hồ bơi di động hiện có trên thị trường để đầu tư cho trường học vì loại hồ bơi này có thể luân chuyển sử dụng trong điều kiện hiện nay còn khó khăn về kinh phí. Khai thác hiệu quả các hồ bơi đã đầu tư tại Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện, Trung tâm Văn hóa học tập cộng đồng cấp xã. Huy động thêm nguồn lực, vận động xã hội hóa, kêu gọi sự ủng hộ của các cá nhân, tổ chức đầu tư xây dựng thêm hồ bơi vừa làm dịch vụ vừa mở lớp bơi ở địa phương.
Lam Anh