TDTT giai đoạn 2000-2010: phát triển mạnh mẽ cả lượng và chất

Đây là giai đoạn Thể thao Việt Nam chuyển mình, phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực: Thể thao thành tích cao và Thể thao quần chúng, Hợp tác quốc tế,... Trong giai đoạn này, Luật Thể dục, Thể thao được Quốc hội khoá XI chính thức thông qua, cùng với đó là Quy hoạch phát triển ngành TDTT đến năm 2010 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về TDTTT, đồng thời là kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển ngành TDTT Việt Nam.

Thể thao quần chúng phát triển từ cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại"

Quán triệt quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và phát triển phong trào thể dục, thể thao; nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý Nhà nước chuyên ngành thể dục, thể thao và các cấp uỷ Đảng, chính quyền đối với sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao, từ 2001-2010, là giai đoạn đầu mà toàn ngành TDTT tập trung thực hiện cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại". Nhờ cuộc vận động, phong trào thể dục, thể thao quần chúng nhân dân có bước phát triển mới về bề rộng và chiều sâu. Đến năm 2010 đã có hơn 25% dân số tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên; có khoảng 40.000 câu lạc bộ thể dục, thể thao quần chúng thuộc các loại hình; có khoảng 30% xã - phường, thị trấn có sân chơi, bãi tập.

Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường được chú trọng, chỉ tính đến năm học 2007-2008, cả nước đã có trên 70% số trường học triển khai áp dụng chương trình giáo dục thể chất chính khoá và một số trường đã có hoạt động ngoại khoá thường xuyên. Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc cùng hàng chục giải thể thao của học sinh, sinh viên đã thu hút hàng chục triệu lượt học sinh, sinh viên tham gia, góp phần tạo nguồn tài năng thể thao trẻ cho thể thao đỉnh cao quốc gia.

Đối với thể dục, thể thao lực lượng vũ trang, giai đoạn 2001-2010 ghi dấu ấn khi đưa huấn luyện thể lực trong Quân đội là 1 trong 4 nội dung huấn luyện quân sự bắt buộc. Trong giai đoạn này, tỷ lệ quân nhân tham gia tập luyện thường xuyên đã đạt 68,6%. Hàng năm, nhiều giải đấu, Hội thao đã được tổ chức giúp thể thao trong lực lượng vũ trang tìm kiếm và đào tạo được nhiều VĐV có trình độ cao tham gia thi đấu quốc gia, quốc tế giành nhiều huy chương.

SEA Games 22 đánh dấu mốc son mới cho Thể thao Việt Nam (Ảnh: Internet)

Thể thao thành tích cao: vươn tầm thế giới

Đây là giai đoạn, lúc đường lối đổi mới phát huy tác dụng to lớn, đời sống kinh tế - xã hội của đất nước phát triển mạnh mẽ, tạo cơ sở để Nhà nước, cả Trung ương, các địa phương và các ngành, đầu tư nhiều hơn cho thể dục thể thao, trong đó có thể thao thành tích cao. Đồng thời, hoạt động xã hội hoá đối với thể dục thể thao, nhất là thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp được đặc biệt quan tâm. Một trong những bước đi đột phá, đó là ngành Thể dục thể thao đã tiến hành thí điểm thực hiện chuyên nghiệp hoá một số môn thể thao, điển hình như Liên đoàn Bóng đá, sau 10 năm thí điểm chuyên nghiệp hoá, đã tổ chức giải thi đấu cho 14 câu lạc bộ chuyên nghiệp, kinh phí thu từ kinh doanh Bóng Đá đáp ứng khoảng 28%, còn 72% vẫn từ ngân sách Nhà nước.

Cũng trong giai đoạn này, sau 4 lần tham gia thành công SEA Games từ lần thứ 15 năm 1989 đến lần thứ 18 năm 1995, Ngành Thể dục Thể thao Việt Nam đã đề suất chủ truơng chính thức lần đầu tiên xin đăng cai tổ chức một kỳ Đại hội thể thao quốc tế lớn trong khu vực - SEA Games 22 - 2003. Chính vì vậy, trong Quy hoạch phát triển Ngành 1995-2005 và định hướng tới 2010, Thể thao Việt Nam đều có kế hoạch chuẩn bị lực lượng VĐV và xây dựng Khu Liên hợp Thể thao Quốc gia cùng các cơ sở vật chất phục vụ tổ chức SEA Games ở Hà Nội và một số địa phương vệ tinh.

Tại kỳ SEA Games này với tư cách là nước chủ nhà, Thể thao Việt Nam không chỉ ghi dấu ấn với bạn bè trong khu vực về công tác tổ chức mà còn giành thành tích ấn tượng khi lần đầu tiên giành ngôi vị vô địch toàn đoàn với tổng cộng 340 huy chương các loại, 156 HCV, 91 HCB và 93 HCĐ. Việc tổ chức thành công SEA Games 22 đã khẳng định năng lực đăng cai các sự kiện thể thao lớn của Việt Nam, là tiền đề giúp chúng ta có được vinh dự nhận đăng cai các đại hội thể thao quốc tế lớn sau đó. Liên tiếp 3 kỳ SEA Games sau đó (SEA Games 23 - 2005 tại Manila, Philippines; SEA Games 24 - 2007 tại Nakhon Ratchsima, Thái Lan và SEA Games 25-2009 tại Viêng Chăn, Lào), Thể thao Việt Nam luôn giữ vững là 1 trong 3 quốc gia hàng đầu ở khu vực.

Trên đấu trường thể thao châu Á, giai đoạn 2000 - 2010 ghi dấu ấn với thành tích ấn tượng của các VĐV tại ASIAD 14 năm 2002 tại Busan - Hàn Quốc. Nếu 4 năm trước đó, tại ASIAD 1998 tại Bangkok - Thái Lan,  Thể thao Việt Nam chỉ giành được duy nhất 1 HCV ở môn Taekwondo thì tại ASIAD 2002, các VĐV đã xuất sắc giành được 4 HCV (2 HCV Karatedo, 1 HCV Billiards-snooker, 1 HCV Thể dục thể hình), qua đó xếp thứ 15 trên tổng số 44 đoàn tham dự.

Dấu mốc lịch sử của Thể thao Việt Nam trong giai đoạn này là tấm HCB danh giá mà võ sĩ Trần Hiếu Ngân (Taekwondo) giành được tại TVH Olympic Sydney 2000. Đây là lần thứ 5, VĐV Việt Nam tham gia Đại hội Olympic kể từ năm 1980. Tại 4 kỳ Olympic trước đó, các VĐV tham gia đều theo diện vé mời nhưng tại kỳ Đại hội Olympic 2000, trong số 8 VĐV tham dự có 2 VĐV Taekwondo nữ là Trần Hiếu Ngân và Nguyễn Xuân Mai đã vượt qua vòng đấu tuyển chọn ở châu lục để đến tham gia tranh tài tại Đại hội Olympic với tư cách chính thức.

Tấm HCB Olympic của võ sĩ Trần Hiếu Ngân đánh dấu mốc quan trọng cho Thể thao Việt Nam khi lần đầu tiên Việt Nam được ghi tên trong danh sách các quốc gia đoạt huy chương Olympic. Thành tích này cũng đưa Thể thao Việt Nam lọt vào danh sách 80/200 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia có huy chương và được xếp hạng 64 thế giới.

Năm 2009, Thể thao Việt Nam tiếp tục khẳng định sự phát triển trên đấu trường thể thao thế giới với việc đăng cai tổ chức thành công một kỳ Đại hội mang tầm châu lục - Đại hội thể thao trong nhà châu Á lần thứ 3. Đây là một kỳ đại hội thành công đối với nước chủ nhà về công tác tổ chức lẫn thành tích thi đấu. Lần đầu tiên tổ chức một đại hội tầm cỡ châu lục, Việt Nam đã nỗ lực đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, điều kiện thi đấu, ăn, ở… được các đoàn khách quốc tế đánh giá cao. Càng bất ngờ hơn về chuyên môn, các VĐV Việt Nam xuất sắc vượt xa chỉ tiêu đề ra, đoạt 42 HCV, vươn lên đứng thứ hai toàn đoàn sau Trung Quốc. Qua đó, khẳng định vị thế của làng thể thao Việt Nam trên đấu trường châu lục và thế giới.

Những thành công trong giai đoạn 2000- 2010 là bước đệm vững chắc để Thể thao Việt Nam tiếp tục bước những bước xa hơn trên con đường chinh phục đỉnh vinh quang trong thời kỳ thể thao đổi mới, giai đoạn 2011 đến nay.

KC

 

Ảnh trong bài
  • TDTT giai đoạn 2000-2010: phát triển mạnh mẽ cả lượng và chất