Nền TDTT Việt Nam những năm đầu thống nhất đất nước

Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hai miền Nam, Bắc thống nhất, đất nước hòa bình. Trong không khí chiến thắng, nhân dân cả nước bước vào công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước sau chiến tranh. Công tác TDTT ở hai miền có nhiều điểm khác biệt, đòi hỏi phải có sự thống nhất về bộ máy tổ chức, quản lý, tổ chức cũng như các yếu tố về con người, hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương pháp TDTT…

Thực trạng công tác TDTT ở hai miền Bắc, Nam sau thống nhất đất nước

Ở miền Bắc, nền TDTT đã đạt được những thành tựu quan trọng sau hơn 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền TDTT cách mạng được hình thành từ sau cách mạng Tháng Tám 1945 đã có điều kiện phát triển vững chắc. Theo các nhà sử học, nền TDTT trên miền Bắc có thượng tầng kiến trúc bao gồm hai cơ sở nền tảng cơ bản đó là: cơ sở tư tưởng (gồm: quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, pháp luật của nhà nước về TDTT), cơ sở tổ chức (gồm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức xã hội về TDTT) và hạ tầng cơ sở (là một bộ phận của hạ tầng cơ sở của thiết chế xã hội trên miền Bắc).

Đây chính là những điều kiện cần thiết để phong trào TDTT quần chúng tiếp tục phát triển ở Miền Bắc với các nội dung, hoạt động không đòi hỏi sự đầu tư nhiều về cơ sở vật chất như bơi lội ở các hồ đơn giản, chạy việt dã, luyện tập võ tay không. Một số tỉnh, thành đã có sân vận động, trường bắn, phòng tập tương đối đảm bảo như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Quân Đội, Đường sắt... Các công trình TDTT được duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa để phục vụ cho các giải phong trào và giải nâng cao.

Bên cạnh đó, ở các vùng mới giải phóng, chúng ta vừa chú ý phát động các phong trào quần chúng tập luyện các hình thức thể dục, vừa đưa hoạt động thể thao trở lại hoạt động hoạt động dựa trên cơ sở vật chất sân bãi đã sẵn có từ trước. các cơ quan thể dục thể thao mới tiếp quản cũng chỉ kịp rà soát bảo đảm an toàn, khôi phục lại các thiết bị đã hư hỏng do chiến tranh.

Còn ở miền Nam, nền TDTT được hình thành từ thời kỳ tạm bị Pháp chiếm, đã phát triển với thượng tầng kiến trúc (theo đường lối chống cộng, chia cắt lâu dài đất nước và bộ máy quản lý TDTT gắn với chính quyền Sài Gòn tay sai của đế quốc Mỹ) và hạ tầng cơ sở tương tứng (phát triển trước hết trong nhà trường để phục vụ cho chủ trương bắt lính vào trong quân đội – cảnh sát để kìm kẹp nhân dân). Hệ thống cơ sở vật chất, sân vận động, hồ bơi, nhà tập ở miền Nam không nhiều, diện tích nhỏ, không đủ tiêu chuẩn và tập trung chủ yếu ở Sài Gòn. Các tỉnh, thành phố khác như Huế, Lâm Đồng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Vĩnh Long… cũng chỉ có 1-2 công trình TDTT nhỏ bé, chất lượng thấp…

Hơn nữa, sau giải phóng, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ, kéo theo sự tan rã của toàn bộ các cơ quan quản lý và điều hành TDTT các cấp. Một số hội đoàn thể thao cũng không còn hoạt động. Tuy nhiên, hệ tư tưởng thể dục thể thao của chế độ cũ còn lưu lại trong nhân dân, trong đội ngũ những người hoạt động thể dục thể thao, là hoàn toàn khác về bản chất với hệ tư tưởng thể dục thể thao cách mạng. Đây cũng chính là trở ngại và khó khăn của Ngành TDTT những ngày đầu đất nước mới thống nhất.

Chỉ thị 227-CT/TW ra đời và những nhiệm vụ của nền TDTT cách mạng

Trước thực trạng đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 227-CT/TW ngày 18/11/1975 "về công tác thể dục thể thao trong tình hình mới", để xác định những chủ trương, nhiệm của của TDTT trong tình hình cả nước tiến hành khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh và tàn dư của chế độ cũ để lại ở các tỉnh phía Nam, nhanh chóng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tăng cường sức khỏe của nhân dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong đó, Chỉ thị nhấn mạnh là “xây dựng một nền thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa phát triển cân đối, có tính chất dân tộc, nhân dân và khoa học.

Chỉ thị 227-CT/TW là một công tình tổng kết thực tiễn chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Ngành TDTT và cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong quá trình xây dựng nền TDTT trên miền Bắc và được vận dụng trên cả nước trong tình hình mới. Chỉ Thị 227 đã đề ra 4 phương châm, 2 nội dung và 6 biện pháp chính để phát triển phong trào TDTT trên cả nước.

Tổng cục TDTT (thành lập 09/01/1971) cơ quan lãnh đạo TDTT trên toàn quốc đã nhanh chóng tiếp thu và quản lý toàn bộ cơ sở hạ tầng của TDTT ở miền Nam và nhanh chóng phối hợp với chính quyền cách mạng các cấp địa phương miền Nam để thiết lập cơ quan TDTT ở các tỉnh, thành và các quận, huyện, có nơi cả các làng – xã vùng mới giải phóng. Với phương châm "Tổ chức vũng, phong trào rộng, lực lượng mạnh", tính đến năm 1979, về cơ bản các tỉnh, thành phố mới giải phóng đã thành lập Sở TDTT. Tuy nhiên, trong thời gian chiến tranh biến giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc, những năm 1978-1979, cơ quan TDTT ở những vùng chiến sự đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, một số cán bộ TDTT bỏ ngành và công tác TDTT ở một số địa phương sút kém.

Đến năm 1985, cơ quan TDTT ở các địa phương trên cả nước đã ổn định, một số thành phố có lực lượng cán bộ, HLV đông đảo, hoạt động TDTT ở các địa phương tiến bộ nhanh. Nhờ vậy, Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ I năm 1985 đã có sự tham gia của đầy đủ 40 đoàn thể thao tỉn, thành phố.

Với Chỉ thị mới của Đảng và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước được kiện toàn thống nhất trong cả nước, với con người và kinh nghiệm trên miền Bắc, việc xây dựng các cơ sở chuyên môn hóa về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ về nghiên cứu và ứng dụng khoa học- công nghệ, về cơ sở vật chất, kỹ thuật, giao lưu, hợp tác quốc tế đã được tiến hành đồng bộ trên cả nước tạo điều kiện phát triển phong trào TDTT quần chúng và phát triển TDTT thành tích cao có quy mô toàn quốc.

Bên cạnh đó, cũng trong những ngày đầu đất nước thống nhất, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã được thành lập (theo Quyết định 500 TTg của Chính phủ ngày 20/12/1976). Uỷ ban Olympic Việt Nam, hoạt động trực tiếp dưới sự quản lý của Tổng Cục TDTT,  là một tổ chức đại diện cho phong trào TDTT nước ta với Uỷ ban và các Liên đoàn thể thao quốc tế.

Quán triệt Chỉ thị số 227/CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “thể dục thể thao trong tình hình mới” ngành TDTT xác định thể thao thành tích cao là một bộ phận của “nền thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa phát triển cân đối, có tính dân tộc, nhân dân và khoa học” trước mắt có 3 nhiệm vụ đó là:

Hình thành hệ thống thi đấu giải từng môn thể thao dân tộc và hiện đại trong phạm vi toàn quốc; trên cơ sở đó, hình thành hệ thống thi đấu thể thao đỉnh cao của quốc gia.

Xây dựng và phát triển đội ngũ năng khiếu thể thao, đào tạo, xây dựng đội ngũ VĐV đỉnh cao “vừa hồng vừa chuyên”. Tăng cường tiếp xúc thi đấu quốc tế với VĐV các nước xã hội chủ nghĩa an hem để nâng cao trình độ thể thao của VĐV nước ta.

Đào tạo cán bộ khoa học, đội ngũ HLV; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ tập luyện và thi đấu của các VĐV.

VD

Ảnh trong bài
  • Nền TDTT Việt Nam những năm đầu thống nhất đất nước