Tập trung chỉ đạo, xác định rõ trách nhiệm và tiến độ thực hiện
Ngay sau khi Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành kế hoạch, Bộ đã xây dựng kế hoạch triển khai, cụ thể hóa 13 nhiệm vụ lớn thành 18 nhiệm vụ thành phần, đồng thời xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, sản phẩm đầu ra và thời hạn hoàn thành đối với từng nhiệm vụ.
Trong quá trình thực hiện, Bộ duy trì chế độ báo cáo hằng tuần, tăng cường kiểm tra, đôn đốc và phối hợp liên ngành nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Việc gắn trách nhiệm của từng đơn vị với tiến độ và sản phẩm cụ thể đã góp phần bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên môn và đơn vị công nghệ.

Kết quả hoàn thành toàn bộ 18 nhiệm vụ thành phần cho thấy vai trò quan trọng của công tác chỉ đạo, điều hành trong xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số. Trong đó, việc tập trung giải quyết đồng thời các vấn đề về thể chế, quy trình nghiệp vụ, chuẩn hóa dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật đã tạo điều kiện để các nhiệm vụ chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, gắn với yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý ngành.
Đẩy mạnh khai thác dữ liệu số trong giải quyết thủ tục hành chính
Một trong những kết quả nổi bật của Kế hoạch hành động 100 ngày là việc đưa dữ liệu số vào phục vụ giải quyết thủ tục hành chính. Theo báo cáo, 273/273 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ đã được khai thác dữ liệu số để thay thế thành phần hồ sơ giấy, tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu đạt 79,19%.
Việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp và VNeID góp phần hạn chế yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin đã có trong các hệ thống dữ liệu. Qua đó, giảm thao tác kê khai, thành phần hồ sơ giấy và tạo thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Cùng với đó, hệ thống của Bộ đã đồng bộ 43.919 hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia,(tính lũy kế từ ngày 29/5 đến tháng 10/2026). Việc kết nối, đồng bộ dữ liệu tạo điều kiện theo dõi, xử lý hồ sơ thống nhất giữa các cấp, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Những kết quả này thể hiện chuyển biến trong phương thức giải quyết thủ tục hành chính, từng bước chuyển từ việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp nhiều loại giấy tờ sang khai thác, sử dụng thông tin từ các cơ sở dữ liệu đã được kết nối.
Hoàn thiện công cụ quản trị dữ liệu, tạo nền tảng thống nhất cho toàn ngành
Song song với việc đưa dữ liệu vào giải quyết thủ tục hành chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản, khung kiến trúc và các công cụ quản trị dữ liệu, tạo nền tảng thống nhất cho công tác xây dựng, quản lý, kết nối và khai thác dữ liệu số trong toàn ngành.
Cụ thể, Bộ đã ban hành Khung kiến trúc số, Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị dữ liệu và Từ điển dữ liệu dùng chung phiên bản 1.0 theo Quyết định số 1495/QĐ-BVHTTDL; tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện lên phiên bản 1.1 theo Quyết định số 2832/QĐ-BVHTTDL ngày 22/10/2026.
Thông qua các công cụ quản trị dữ liệu, Bộ đã xác định 34 dữ liệu chủ và 69 danh mục dữ liệu dùng chung, làm cơ sở chuẩn hóa dữ liệu, thống nhất phương thức quản lý và tăng cường khả năng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ. Đây là bước quan trọng nhằm khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác dữ liệu phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành.
Bên cạnh đó, Bộ đã ban hành Danh mục dữ liệu mở và Kế hoạch cung cấp dữ liệu mở giai đoạn 2026–2027 theo Quyết định số 2833/QĐ-BVHTTDL ngày 22/10/2026, với 17 nguồn dữ liệu mở sẵn sàng khai thác trên Cổng dữ liệu mở của Bộ. Bộ cũng đã chuẩn hóa hành lang pháp lý, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu quản lý dữ liệu, bảo đảm áp dụng thống nhất đối với 100% dự án công nghệ thông tin của Bộ.
Thúc đẩy đồng bộ cơ sở dữ liệu chuyên ngành với dữ liệu quốc gia
Một nhiệm vụ trọng tâm khác được Bộ tập trung triển khai là tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về thể chế, nghiệp vụ và kỹ thuật, thúc đẩy kết nối, đồng bộ dữ liệu của 07 cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Trung tâm Dữ liệu quốc gia (C12) và Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ Công an (C06).
Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành gồm: Cơ sở dữ liệu hiện vật; Cơ sở dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể; Cơ sở dữ liệu cơ quan báo chí; Cơ sở dữ liệu đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan; Cơ sở dữ liệu phòng, chống bạo lực gia đình; Cơ sở dữ liệu sản phẩm quảng cáo và Cơ sở dữ liệu thành tích thể thao.
Đáng chú ý, Bộ đã hoàn thành kết nối Cơ sở dữ liệu thẻ nhà báo với C06 theo quy định tại Nghị định số 58/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 và Nghị định số 320/2026/NĐ-CP ngày 13/8/2026; đồng thời tiếp tục triển khai kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, góp phần khai thác hiệu quả 05 nhóm tiện ích thuộc Đề án 06.
Theo kết quả triển khai, dữ liệu hiện vật đã đồng bộ 17.680 bản ghi lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia; 6.552 hồ sơ thẻ nhà báo được đồng bộ lên hệ thống của C06. Các hệ thống thông tin dùng chung trọng yếu cũng được kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng 24/7.
Việc hoàn thành 18/18 nhiệm vụ thành phần trong Kế hoạch hành động 100 ngày là kết quả quan trọng trong quá trình triển khai chuyển đổi số của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Từ việc hoàn thiện thể chế, xây dựng công cụ quản trị đến kết nối, đồng bộ và khai thác dữ liệu, các nhiệm vụ đã góp phần hình thành nền tảng quản trị dữ liệu thống nhất, phục vụ đổi mới phương thức quản lý nhà nước trong toàn ngành.
PV