Hoàn thiện thể chế: Chìa khóa để công nghiệp văn hóa bứt phá

Trong hành trình đưa văn hóa trở thành một nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước, công nghiệp văn hóa đang đứng trước một bước chuyển có ý nghĩa đặc biệt khi chuyển mình từ một lĩnh vực được nhận diện về tiềm năng trở thành một ngành kinh tế cần được kiến tạo bằng một hệ thống thể chế tương xứng.

Trên cơ sở đó, công tác xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế không đơn thuần là bổ sung thêm một văn bản pháp luật, mà hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý chung, đồng bộ, đủ sức khơi thông nguồn lực sáng tạo, thúc đẩy thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam.

Dự thảo 1.0 Luật Phát triển công nghiệp văn hóa hiện gồm 9 chương, 60 điều và đang được lấy ý kiến rộng rãi từ ngày 5 đến hết ngày 24/8/2026. Đây là bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa các chủ trương lớn về phát triển văn hóa, đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo.

Một sản phẩm văn hóa chỉ thực sự trở thành sản phẩm của công nghiệp văn hóa khi nó tham gia vào một chuỗi giá trị hoàn chỉnh

Từ tiềm năng lớn đến yêu cầu về một hành lang pháp lý thống nhất

Cần phải khẳng định rằng, Việt Nam không thiếu nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa khi sở hữu hệ thống di sản phong phú, bản sắc văn hóa đa dạng, lực lượng sáng tạo ngày càng đông đảo, thị trường trong nước lớn và một thế hệ trẻ có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ, các xu hướng sáng tạo toàn cầu.

Tuy nhiên, tiềm năng không tự động chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Một trong những "điểm nghẽn" được nhận diện thời gian qua chính là hệ thống thể chế chưa được hoàn thiện. Các hoạt động liên quan đến công nghiệp văn hóa hiện chịu sự điều chỉnh của nhiều luật chuyên ngành như sở hữu trí tuệ, du lịch, di sản văn hóa, quảng cáo, thương mại điện tử… trong khi chưa có một cơ chế điều phối chung cho toàn bộ hệ sinh thái khiến quá trình xây dựng, khai thác và thương mại hóa sản phẩm văn hóa còn gặp nhiều rào cản.

So với nhiều ngành kinh tế truyền thống, công nghiệp văn hóa có nhiều điểm khác biệt. Lấy ví dụ về một bộ phim, đây không chỉ là hoạt động điện ảnh; một sản phẩm âm nhạc hay hoạt động biểu diễn hoặc một thiết kế thời trang, mà có thể đồng thời liên quan đến mỹ thuật, sở hữu trí tuệ, thương mại, quảng bá và xuất khẩu. Hay một sản phẩm game lại nằm ở giao điểm giữa sáng tạo, công nghệ, bản quyền, nội dung số và thị trường quốc tế.

Nếu mỗi mắt xích được điều chỉnh bởi một “mảnh ghép” pháp luật khác nhau nhưng thiếu sự kết nối, doanh nghiệp và người sáng tạo sẽ phải tự tìm cách vượt qua những khoảng trống giữa các chính sách. Khi đó, chính tiềm năng sáng tạo có thể bị giới hạn bởi thủ tục, cơ chế đầu tư, khả năng tiếp cận nguồn lực hay những bất cập trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Bởi vậy, yêu cầu đặt ra với Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là “quản lý tốt hơn”, mà phải kiến tạo tốt hơn. Một trong những ý nghĩa thể chế quan trọng nhất của dự án Luật là xác lập địa vị pháp lý chính thức cho công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam.

Theo dự thảo 1.0 Luật Phát triển công nghiệp văn hoá, ba mục tiêu lớn được hướng tới gồm: Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế; Kết nối chuỗi giá trị nhằm gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư; Lan tỏa bản sắc, thương hiệu và sức mạnh mềm Việt Nam ra quốc tế.

Trong cách tiếp cận truyền thống, văn hóa thường được nhìn trước hết từ phương diện bảo tồn, sáng tạo và đáp ứng nhu cầu tinh thần của xã hội. Nhưng khi hình thành công nghiệp văn hóa, một tác phẩm, một ý tưởng sáng tạo còn có thể trở thành hàng hóa, dịch vụ, tài sản trí tuệ và thương hiệu.

Do đó, Nhà nước không chỉ cần xây dựng chính sách để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa mà còn phải tạo môi trường để những giá trị ấy được sáng tạo, sản xuất, lưu thông, thương mại hóa và tái đầu tư. Đây chính là khoảng chuyển từ tư duy “quản lý hoạt động văn hóa” sang tư duy “phát triển ngành công nghiệp văn hóa”.

Hoàn thiện thể chế phải tạo ra môi trường đủ hấp dẫn để doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội

Kết nối chuỗi giá trị, biến sáng tạo thành giá trị kinh tế

Một sản phẩm văn hóa chỉ thực sự trở thành sản phẩm của công nghiệp văn hóa khi nó tham gia vào một chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Do vậy, Dự thảo Luật được xây dựng theo hướng kết nối các chính sách thành chuỗi từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư, lấy người sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ làm trung tâm. Sáu trụ cột chính được đề cập gồm hệ sinh thái sáng tạo, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, thị trường và nguồn lực tài chính. Cách tiếp cận này có ý nghĩa thể chế rất rõ.

Nếu trước đây chính sách có thể tập trung nhiều hơn vào việc hỗ trợ một hoạt động hoặc một lĩnh vực, thì công nghiệp văn hóa đưa ra cái nhìn toàn diện mọi yếu tố xung quanh của sản phẩm. Từ ý tưởng ban đầu, sản phẩm cần có người sáng tạo, nguồn vốn, hạ tầng, công nghệ, cơ chế bảo vệ quyền, kênh phân phối, thị trường tiêu dùng và khả năng mở rộng sang các thị trường mới.

Khi các mắt xích được kết nối, một giá trị văn hóa mới có cơ hội tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn. Đây cũng là lý do Dự thảo Luật hướng tới không chỉ thị trường trong nước mà cả xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược. Nói cách khác, thể chế phải giúp rút ngắn khoảng cách từ “ý tưởng” đến “sản phẩm”, từ “sản phẩm” đến “thị trường” và từ “thị trường” đến “thương hiệu Việt Nam”.

Trong nền kinh tế sáng tạo, tài sản trí tuệ chính là một trong những nền tảng quan trọng nhất. Đây cũng là lĩnh vực mà yêu cầu hoàn thiện thể chế trở nên cấp thiết. Một hình tượng văn hóa, họa tiết truyền thống, câu chuyện dân gian, sản phẩm làng nghề hay thiết kế lấy cảm hứng từ di sản đều có thể trở thành chất liệu để hình thành những sản phẩm mới. Nhưng nếu không được nhận diện, bảo vệ và khai thác dưới góc độ sở hữu trí tuệ, giá trị đó rất dễ bị sao chép hoặc khai thác thiếu kiểm soát. 

Vì vậy, hoàn thiện thể chế về công nghiệp văn hóa cũng chính là tạo cơ sở để chuyển hóa các giá trị văn hóa thành tài sản có thể xác lập quyền, định giá, khai thác và tái đầu tư. Đây là một thay đổi rất căn bản khi văn hóa không chỉ được nhìn như “tài nguyên tinh thần”, mà còn có thể trở thành tài sản trí tuệ và nguồn lực kinh tế nếu được bảo vệ và khai thác đúng cách.

Thể chế phải mở đường cho nguồn lực xã hội

 

Một ngành công nghiệp muốn phát triển không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước. Công nghiệp văn hóa càng cần sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp, nhà đầu tư, cộng đồng sáng tạo và các nguồn lực xã hội. Thực tế cho thấy pháp luật về đầu tư, tài chính cho văn hóa còn phân tán; mức đầu tư còn hạn chế và các cơ chế khuyến khích xã hội hóa, thu hút nguồn lực ngoài nhà nước chưa hoàn chỉnh. 

Do đó, hoàn thiện thể chế phải tạo ra môi trường đủ hấp dẫn để doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội, nhà đầu tư nhìn thấy khả năng sinh lời, còn người sáng tạo nhìn thấy cơ hội phát triển nghề nghiệp. Điều quan trọng không phải Nhà nước làm thay thị trường, mà là Nhà nước kiến tạo môi trường rõ ràng, minh bạch và ổn định.

Khi quyền sở hữu được bảo vệ, cơ hội đầu tư được mở rộng, hạ tầng được cải thiện và thị trường được kết nối, nguồn lực xã hội sẽ có thêm động lực tham gia. Khi đó, đầu tư cho văn hóa không chỉ được nhìn như một khoản chi mà trở thành một hoạt động đầu tư có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia.

Một yêu cầu khác khiến việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trở nên cấp thiết là sự thay đổi rất nhanh của công nghệ. Công nghiệp văn hóa ngày nay phát triển đồng thời trong không gian thực và không gian số. Một sản phẩm có thể được sáng tạo tại Việt Nam nhưng tiếp cận người dùng ở hàng chục quốc gia chỉ sau một thời gian rất ngắn. Công nghệ số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng phân phối đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng văn hóa.

Tại Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định chuyển đổi số là một đột phá quan trọng để mở rộng không gian sáng tạo và phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.

Điều đó đặt ra yêu cầu pháp luật không thể chỉ giải quyết những mô hình kinh doanh của hôm nay. Thể chế phải đủ linh hoạt để thích ứng với những mô hình sáng tạo mới, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo, doanh nghiệp và công chúng trong môi trường số.

Đây cũng là một trong những lý do việc xây dựng Luật cần được thực hiện với tầm nhìn dài hạn, tránh tình trạng luật vừa ban hành đã phải liên tục sửa đổi vì công nghệ và thị trường thay đổi quá nhanh.

Nhìn tổng thể, ý nghĩa của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nằm ở việc tạo ra một cách tiếp cận mới đối với mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa trong một tầm nhìn mới.

Sau sáu tháng triển khai, yêu cầu hoàn thiện thể chế tiếp tục được nhấn mạnh, trong đó có những khoảng trống liên quan đến việc chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức, tài sản trí tuệ; nâng cao năng lực sáng tạo sản phẩm có sức cạnh tranh và hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Như vậy, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có thể được nhìn nhận như một bước tiếp theo trong quá trình đưa những định hướng lớn về văn hóa vào đời sống bằng các quy định cụ thể, đồng bộ và có khả năng thực thi.

Thành công của Luật, nếu được ban hành, sẽ không chỉ được đo bằng số lượng điều khoản hay số chính sách ưu đãi. Thước đo quan trọng hơn là liệu những quy định đó có giúp người sáng tạo mạnh dạn sáng tạo hơn, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư hơn, thị trường vận hành minh bạch hơn và các giá trị văn hóa Việt Nam có khả năng đi xa hơn hay không.

Bởi vậy, hoàn thiện thể chế không phải là công việc đứng ngoài quá trình phát triển công nghiệp văn hóa. Đó chính là điều kiện mở đường cho quá trình phát triển ấy. Khi thể chế tạo được không gian cho sáng tạo, bảo vệ được tài sản trí tuệ, kết nối được nguồn lực, thúc đẩy được thị trường và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, những giá trị văn hóa vốn đang nằm trong tiềm năng mới có thể được chuyển hóa thành sản phẩm, thương hiệu, việc làm, nguồn thu và sức mạnh mềm quốc gia.

Theo CTTĐT Bộ VHTTDL

Ảnh trong bài
  • Hoàn thiện thể chế: Chìa khóa để công nghiệp văn hóa bứt phá
  • Hoàn thiện thể chế: Chìa khóa để công nghiệp văn hóa bứt phá
  • Hoàn thiện thể chế: Chìa khóa để công nghiệp văn hóa bứt phá