Tạo đột phá về thể chế, chính sách
Sau hơn 12 năm triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực này vào GDP giai đoạn 2018-2025 đạt khoảng 4-5%, còn khoảng cách so với mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thực tế đặt ra yêu cầu xây dựng một khung pháp lý đồng bộ, khắc phục tình trạng các chính sách còn phân tán theo từng lĩnh vực, trong khi công nghiệp văn hóa vận hành theo chuỗi giá trị liên ngành.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tập trung vào 06 chính sách cốt lõi (Ảnh: ST)
Dự thảo Luật được xây dựng theo hướng kiến tạo phát triển, khơi thông nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và các chủ thể tham gia thị trường. Trong đó, trọng tâm là kết nối chuỗi giá trị, thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, thu hút đầu tư và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Để phát triển công nghiệp văn hóa, cần tập trung vào 06 chính sách cốt lõi, bao gồm:
Phát triển và khai thác tài sản trí tuệ văn hóa: Tài sản trí tuệ được xác định là nguồn vốn đặc biệt của công nghiệp văn hóa. Dự thảo hướng tới tăng cường bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan; thúc đẩy tài sản hóa các giá trị sáng tạo và hình thành thị trường đối với tài sản trí tuệ văn hóa. Trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh, bảo vệ bản quyền trên môi trường số, chống khai thác trái phép và bảo đảm quyền lợi của chủ thể sáng tạo là yêu cầu cấp thiết.
Xây dựng hạ tầng công nghiệp văn hóa: Hạ tầng được xác định là nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành, bao gồm các thiết chế văn hóa, phim trường, trung tâm nghệ thuật, không gian sáng tạo, hạ tầng số và các cụm, khu, tổ hợp văn hóa - sáng tạo. Việc phát triển đồng bộ hạ tầng sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái, tạo điều kiện kết nối doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sản xuất, công nghệ và các tổ chức sáng tạo.
Phát triển nguồn nhân lực và trọng dụng nhân tài: Con người là yếu tố trung tâm của công nghiệp văn hóa. Bên cạnh đào tạo chuyên môn nghệ thuật, cần chú trọng các kỹ năng về quản trị, kinh doanh, marketing văn hóa, quản trị tài sản trí tuệ, sản xuất nội dung số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó là cơ chế phát hiện, đào tạo, trọng dụng và tôn vinh tài năng, hình thành đội ngũ có khả năng kết hợp giữa sáng tạo văn hóa và công nghệ hiện đại.
Phát triển thị trường công nghiệp văn hóa: Dự thảo xác định thị trường là yếu tố then chốt quyết định sức sống và khả năng cạnh tranh của sản phẩm văn hóa. Các lĩnh vực có tiềm năng như: Điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử, ẩm thực, du lịch văn hóa và nội dung số cần được phát triển gắn với nhu cầu thị trường, ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối và tiêu thụ.
Huy động nguồn lực và thu hút đầu tư chiến lược: Một trong những điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa là nguồn lực đầu tư còn hạn chế. Vì vậy, cần đa dạng hóa nguồn lực, phát huy vai trò kiến tạo, dẫn dắt của Nhà nước; đồng thời tạo điều kiện để khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng. Việc thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới phân phối quốc tế được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực trong nước và mở rộng thị trường.
Xây dựng thương hiệu văn hóa Việt Nam và lan tỏa sức mạnh "mềm": Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ nhằm gia tăng doanh thu hay tỷ trọng GDP mà còn hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia. Theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, đến năm 2030 phấn đấu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Do đó, các sản phẩm văn hóa cần vừa mang đậm bản sắc Việt Nam, vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của dự thảo là chuyển từ tư duy quản lý từng lĩnh vực sang phát triển một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, trong đó, Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp là động lực, người sáng tạo là trung tâm và thị trường là nơi kiểm chứng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Nếu được hoàn thiện đồng bộ, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ tạo hành lang pháp lý để tháo gỡ các điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, hạ tầng, nhân lực, thị trường và đầu tư; đồng thời mở rộng không gian cho các mô hình kinh doanh văn hóa mới, nhất là trong môi trường số.
Từ nguồn lực văn hóa đến sản phẩm, từ sản phẩm đến thị trường và từ thị trường đến thương hiệu quốc gia, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo bước chuyển quan trọng, đưa các giá trị sáng tạo và bản sắc Việt Nam trở thành nguồn lực kinh tế mới, góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh "mềm" của đất nước.
VD