TỔNG CỤC THỂ DỤC THỂ THAO
  1. TRANG CHỦ
  2. GIỚI THIỆU
  3. TIN TỨC SỰ KIỆN
  4. CHUYÊN NGÀNH
  5. ẢNH - VIDEO
  6. VĂN BẢN PHÁP QUY
  7. LIÊN HỆ

Công tác đào tạo trẻ môn Điền kinh: muốn làm tốt, cần có sự đầu tư đồng bộ

701 Lượt xem

Trong những năm gần đây, Điền kinh luôn là môn thể thao mũi nhọn của Thể thao Việt Nam tại những đấu trường thể thao lớn trong khu vực và châu lục, chính vì vậy công tác đào trẻ của môn thể thao này là vấn đề cần phải ưu tiên tính đến. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Trang tin điện tử TDTT Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Dương Đức Thủy - Phụ trách bộ môn Điền kinh -Tổng cục Thể dục Thể thao.

Xin ông cho biết công tác đào tạo trẻ có vai trò quan trọng như thế nào trong sự phát triển của môn Điền kinh?

Công tác đào tạo trẻ là khâu rất quan trọng trong quy trình đạo tạo vận động viên. Trình độ chuyên môn, tuổi thọ thành tích thể thao của vận động viên…đều phụ thuộc vào khâu đào tạo trẻ này. Trong những năm gần đây, thế giới cũng đã đánh giá công tác đào tạo trẻ là khâu then chốt. Từ sự thay đổi nhận thức và tư duy này, các cuộc thi đấu dành cho lứa tuổi trẻ, như: Thế vận hội Olympic trẻ,  Asian Games trẻ, Đại hội thể thao trẻ châu Á (Yakursk – Nga) đã được tổ chức. Tổ chức Điền kinh thế giới (tiền thân là IAAF) cũng đã ban hành hệ thống thi đấu dành cho các lứa tuổi trẻ: U18, U20… Thậm chí lứa tuổi vận động viên được xem xét tính chuẩn Olympic cũng đã hạ xuống tới 16 tuổi ở khá nhiều nội dung. Hàng năm, ở khu vực Đông Nam Á, chúng ta liên tục tham dự giải Điền kinh Các Lứa tuổi và luôn có rất nhiều vận động viên đạt thành tích cao. Trong quá trình phát triển của mình, Điền kinh Việt Nam đã có những vận động viên đạt thứ hạng cao của châu Á. Đơn cử: các vận động viên Bùi Thị Nhung (huy chương Vàng - Nhảy cao), Trương Thanh Hằng (huy chương Vàng - 800m), Nguyễn Thị Huyền (huy chương Vàng - 400m rào), Vũ Thị Hương (huy chương Bạc - 200m), Nguyễn Thị Nụ (huy chương Bạc - 400m rào), Nguyễn Duy Bằng (huy chương Đồng - Nhảy cao), Đỗ Thị Bông (huy chương Đồng – 800m).. Họ đều đã đạt thành tích châu Á khi mới 20 - 22 tuổi. Thậm chí, trước đây chưa có nhà chuyên môn nào dám nghĩ rằng Điền kinh Việt Nam sẽ có các vận động viên đạt chuẩn tham dự giải Vô địch Trẻ Điền kinh thế giới, nhưng chúng ta đã làm được điều đó vào năm 2018, khi các vận động viên Cao Võ Ngọc Long đã nhảy 2m16  -  đạt chuẩn Vô địch Trẻ thế giới.

Từ sau khi Điền kinh Việt Nam giành chiếc huy chương Vàng đầu tiên tại Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 18 năm 1995 (Chiang Mai, Thái Lan) của Vũ Bích Hường ở nội dung 100m rào, công tác đào tạo trẻ đã được chú trọng. Tại kỳ Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 (SEA Games 22) năm 2003 tổ chức tại Việt Nam, chúng ta đã có những bước tiến nhảy vọt về số lượng huy chương và chất lượng các tấm huy chương. Thành tích mà Điền kinh Việt Nam có được hôm nay là nhờ sự đóng góp không nhỏ của các vận động viên trẻ tiêu biểu như: Nguyễn Thị Tĩnh, Vũ Thị Hương (Cự ly ngắn), Nguyễn Lan Anh, Đỗ Thị Bông, Trương Thanh Hằng, Nguyễn Đình Cương (cự ly trung bình), Bùi Thị Nhung, Nguyễn Thị Ngọc Tâm, Nguyễn Duy Bằng (Nhảy cao),... Vào thời điểm năm 2003, 2005… các vận động viên mới chỉ ở độ tuổi 20. Lứa vận động viên này chính là kết quả của việc thực hiện hiệu quả “Chương trình mục tiêu quốc gia về thể thao” – kế hoạch chuẩn bị lực lượng vận động viên cho SEA Games 22, năm 2003 tại Việt Nam.

Trong giai đoạn từ 1995 - 2002, nhiều địa phương đã xuất hiện những vận động viên trẻ xuất sắc như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quân đội, Hà Tây, Thanh Hoá, Thái Nguyên... công tác đào tạo trẻ đã mang lại hiệu quả rõ rệt và được minh chứng qua thành tích mà các vận động viên trẻ đạt được tại các giải đấu trong nước cũng như khu vực. Từ đó đến nay, những lứa vận động viên kế cận như Bùi Thị Thu Thảo, Nguyễn Mạnh Hùng (Nhảy xa – 3 bước),  Quách Công Lịch, Quách Thị Lan, Nguyễn Thị Huyền (400m và 400m rào), Nguyễn Thị Oanh, Khuất Phương Anh (cự ly trung bình)... cũng đã không ngừng nỗ lực để nâng cao hơn nữa vai trò của Điền kinh Việt Nam tại những đầu trường thể thao danh tiếng của khu vực và châu lục. Đặc biệt là trong hai kỳ Đại hội thể thao Đông Nam Á gần đây, Điền kinh Việt Nam đã tạo nên dấu ấn đặc biệt. Tại SEA Games 29, lần đầu tiên trong lịch sử Điền kinh Việt Nam đã vượt qua Thái Lan để xếp vị trí thứ Nhất toàn đoàn, với tỷ số chênh lệch huy chương Vàng so với đối thủ là 17 - 9. Và hai năm sau đó, tại SEA Games 30 ở Philippines, Điền kinh Việt Nam lại một lần nữa thi đấu xuất sắc để đứng ở ngôi Vương với 16 huy chương Vàng. Có được thành công này, phải kể tới sự góp mặt của một số gương mặt trẻ, tài năng như: Trần Nhật Hoàng (giành 3 huy chương Vàng cá nhân và đồng đội), Nguyễn Thị Hằng (2 huy chương vàng đồng đội), Phạm Thị Thu Trang (huy chương Vàng 10.000m đi bộ)... hay một Phạm Thị Huệ ấn tượng trên đường chạy 10.000m. Bên cạnh những tấm huy chương Vàng, Điền kinh Việt Nam còn để lại dấu ấn đặc biệt với những cái tên như: Phạm Thị Hồng Lệ, Phạm Thị Huệ hay tân binh Vũ Thị Mộng Mơ.

Những kết quả cụ thể trên phần nào cho thấy tầm quan trọng của việc đào tạo trẻ không chỉ đối với Điền kinh nói riêng mà còn đối với các môn thể thao khác nói chung. Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, công tác đào tạo trẻ của môn Điền kinh đã, đang trở thành bài toán khó đối với những người làm công tác chuyên môn.

Vậy ông có thể chia sẻ những khó khăn cụ thể mà Điền kinh Việt Nam đang phải đối mặt khi thực hiện công tác đào tạo trẻ?

Trong giai đoạn 1993 - 2003, ngành Thể dục thể thao đã được Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về thể thao” nhằm gấp rút chuẩn bị nguồn nhân lực cho SEA Games 22 tại Việt Nam. Nhờ nguồn kinh phí này mà thể thao nói chung và Điền kinh nói riêng đã có đủ lực để mạnh dạn đầu tư cho lực lượng trẻ. Tuy nhiên sau khi kết thúc chương trình này thì chúng ta không còn nguồn nào nữa. Do đó việc đào tạo trẻ cũng vì thế mà bị ảnh hưởng rất nhiều. Đặc biệt là trong bối cảnh các địa phương cũng bị cắt giảm bớt chỉ tiêu tuyển sinh, cắt giảm biên chế… nên việc tiếp nhận thêm huấn luyện viên, bổ sung lực lượng vận động viên của địa phương bị sụt giảm nghiêm trọng. Chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực Thể dục thể thao đã được triển khai tuy nhiên chưa mạnh mẽ và triệt để. Những khó khăn đến từ nhiều nguyên nhân, chủ quan lẫn khách quan như: vấn đề kinh phí, đội ngũ huấn luyện viên giỏi chuyên môn chưa nhiều, sự quan tâm của lãnh đạo các địa phương chưa đồng đều và còn nhiều các vấn đề liên quan như: chế độ, chính sách và đặc biệt là tính khoa học trong công tác đào tạo, huấn luyện...

Trong quá trình gọi các vận động viên trẻ lên tập huấn tại các Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia, đa phần các huấn luyện viên phải làm lại gần như từ đầu: Thể lực, Kỹ thuật, Kỹ năng vận động…vì sự đầu tư cho các vận động viên trẻ  ở địa phương cũng chưa cao. Thực tế trên không chỉ ở môn Điền kinh mà ở nhiều môn thể thao khác cũng gặp phải tình cảnh tương tự. Vấn đề khó khăn nhất trong công tác đào tạo trẻ theo tôi đó là sự chưa đồng bộ thể hiện rõ từ hạ tầng cơ sở vật chất tới nguồn nhân lực chuyên môn cao. Chưa đồng bộ từ địa phương đến trung ương trong công tác huấn luyện, đào tạo. Bên cạnh đó, công tác đào tạo và hệ thống tuyển chọn cũng còn nhiều bất cập.

Ngoài ra, việc xã hội hóa một cách mạnh mẽ hệ thống thể thao cũng chưa tạo ra được đột phá, hay nói một cách khác là hệ thống liên đoàn, hiệp hội chưa phát huy tối đa khả năng của mình trong việc kêu gọi sự phối hợp, đồng hành từ các nguồn lực xã hội.

Vai trò của Bộ Giáo dục – Đào tạo trong công tác giáo dục thể chất ở các cấp học từ Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông còn chưa bài bản. Những năm 80 của thế kỷ trước, Bộ Giáo dục – Đào tạo có 1 hệ thống giáo dục thể chất rất đồng bộ. Hàng năm vẫn có các giải Điền kinh Thanh - Thiếu niên, trong đó “4 môn Phối hợp” dành cho Trung học cơ sở và “5 môn Phối hợp” dành cho Trung học phổ thông và Đại hội của sinh viên rất đa dạng nội dung thi đấu thì bây giờ không có nên thiếu hẳn mảng đó. Trước đây, tại các trường học, môn Giáo dục thể chất vẫn còn các bài tập của môn điền kinh như: chạy ngắn, đẩy tạ, nhảy xa, nhảy ba bước… là những môn bắt buộc thì những năm gần đây, các em học sinh có thể lựa chọn các môn yêu thích để học như: bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông…, rất ít em chọn môn Điền kinh. Bên cạnh đó, các giáo viên Giáo dục thể chất cũng khó tìm được việc tại các trường, đặc biệt là khối Tiểu học

Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong đào tạo vận động viên nói chung và vận động viên trẻ nói riêng còn rất hạn chế. Một phần vì các huấn luyện viên không có ngoại ngữ nên khó trao đổi với các đồng nghiệp nước ngoài, phần nữa là chưa chủ động giao lưu học hỏi kinh nghiệm của các lớp huấn luyện viên đi trước…

Từ những khó khăn trong công tác đào tạo trẻ dẫn tới những hạn chế gì thưa ông?

Chúng ta luôn đòi hỏi một thế hệ vận động viên xuất chúng, một lực lượng kế cận hùng hậu thế nhưng từ khâu tuyển chọn và đạo tạo đã không đồng bộ thì những mục tiêu mong muốn đó khó có thể trở thành hiện thực được. Thực tế cho thấy, nếu không có những sinh viên được đào tạo bài bản thì chúng ta không thể có được lực lượng huấn luyện viên lành nghề, nếu không có những vận động viên trẻ được huấn luyện có hệ thống thì làm sao có được những nhân tố xuất sắc để kế cận thế hệ đàn anh, đàn chị. Đơn cử sau thời điểm năm 2003, trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh đứng ở tốp đầu các trường Đại học với tỷ lệ chọi 1/30, và trong đó 1/4 thí sinh thi tuyển đăng ký theo học môn Điền kinh. Tuy nhiên, do không đảm bảo được công việc đầu ra nên trong những năm gần đây, công tác tuyển sinh cũng gặp phải những khủng hoảng nhất định. Số thí sinh đăng ký ít thì chúng ta sẽ hạn chế về số lượng vận động viên giỏi, huấn luyện giỏi.  Hay việc các nội dung của điền kinh không là bắt buộc đối với Giáo dục thể chất trong trường học cũng là một mảng khuyết trong tuyển chọn và đào tạo lực lượng trẻ. Song hành với đó có những yếu tố khó khăn khác đó là lực lượng huấn luyện viên hiện nay cũng đang đối mặt với tình hình tinh giản biên chế nên số lượng không nhiều, và thường là kiêm nhiệm các môn thể thao khác. Trong bối cảnh chung của nền giáo dục Việt Nam, khi mà các cử nhân sau khi tốt nghiệp mà vẫn thất nghiệp thì khó khăn của ngành Thể dục thể thao cũng không tránh khỏi. Các vận động viên sau khi giải nghệ đều được ưu tiên vào các trường Đại học Thể dục thể thao nhưng khó kiếm được việc làm khi tốt nghiệp ra trường. Một số vận động viên đã được biên chế ngay từ khi còn đang tập luyện, nhưng chưa chịu khó đầu tư học hỏi, trau dồi chuyên môn…nên lượng huấn luyện viên trong số này được gọi lên đội tuyển rất ít. Đáng ra họ phải là lớp huấn luyện viên năng động, có chuyên môn cao, dám đương đầu thử thách..

Việc chưa đồng bộ từ địa phương đến trung ương trong công tác huấn luyện, đào tạo sẽ đẫn tới hệ quả là vận động viên trẻ được gọi lên tuyển vẫn còn những hạn chế về nhiều mặt như: trình độ chuyên môn thấp, khả năng phối hợp kỹ thuật chưa cao… mà đáng lý ra phải được hoàn chỉnh từ dưới địa phương trước khi được triệu tập. Bên cạnh đó cơ sở vật chất xuống cấp, trang thiết bị lạc hậu… nên kết quả tất yếu sẽ là sự thiếu hụt về lực lượng trẻ cho công tác tuyển chọn và đào tạo. Việc xã hội hóa một cách mạnh mẽ hệ thống thể thao cũng chưa tạo ra sự đột phá hay nói một cách khác là hệ thống liên đoàn, hiệp hội chưa phát huy tối đa khả năng của mình trong việc kêu gọi sự phối hợp từ các nguồn lực xã hội sẽ khiến cho nguồn kinh phí eo hẹp, và tất yếu xảy ra đó là"cái khó sẽ bó cái khôn".

Đặc biệt, trong giai đoạn cách mạnh khoa học công nghệ 4.0 thì việc ứng dụng công nghệ vào công tác đào tạo, huấn luyện có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nếu chúng ta hạn chế ở lĩnh vực này thì không những công tác huấn luyện, đào tạo không được đảm bảo mà vận động viên của chúng ta còn có thể ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe và tuổi thọ nghề nghiệp. Tôi lấy một ví dụ nhỏ thôi, đó là vận động viên trẻ cần được rút kinh nghiệm sớm nhằm rút ngắn khoảng cách đào tạo. Đặc biệt là khi họ cần phân biệt thế nào là kỹ thuật đúng, kỹ thuật chuẩn và muốn làm được như vậy thì chúng ta phải có những máy quay để ghi lại hình ảnh thị phạm thế nhưng yêu cầu đơn giản này hiện nay cũng chưa đảm bảo được. Bên cạnh đó, nếu không có sự hỗ trợ của công nghệ, của hệ thống máy móc hiện đại thì vận động viên của chúng ta sẽ mất sức rất nhiều trong quá trình tập luyện cũng như thi đấu. Tập luyện và thi đấu vất vả mà không được tái tạo năng lượng sẽ khiến tuổi thọ thi đấu của vận động viên Việt Nam nhất là những môn sức bền và sức mạnh sẽ không thể kéo dài.

Với vai trò là một người làm công tác quản lý nhà nước, trước tình hình khó khăn như hiện nay, ông có những kiến nghị hay giải pháp gì để khắc phục phần nào vấn đề mà bộ môn đang phải đối mặt?

Với câu hỏi này, tôi đang hồi tưởng 20 năm trước, khi mới về nước nhận nhiệm vụ. Lúc đó tôi đã trình bày với nguyên Bộ trưởng Hà Quang Dự: Điền kinh Việt Nam không hề thua kém Thái Lan về mọi điều kiện: tầm vóc con người, khả năng thể lực, điều kiện địa lý. Vậy tại sao chúng ta vẫn mãi thua Thái Lan? Giờ đây, sau 20 năm chúng ta đã vượt họ về số huy chương Vàng, những vẫn còn kém họ về chất lượng đào tạo. Do đó, muốn trở thành cường quốc Điền kinh, phải giải quyết được một số vấn đề. Trước hết phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong môn Điền kinh. Đó là cởi trói về cơ chế, là năng động trong tư duy, mạnh dạn trong hành động. Những điều này cần phải được đồng bộ hóa, liên đới hóa giữa các ngành, các bên liên quan. Giải quyết thấu đáo những vấn đề này sẽ mở ra mọi cơ hội cho Điền kinh Việt Nam phát triển.

Cần khẳng định ở đây rằng, công tác đào tạo trẻ của môn Điền kinh, dù là bài toán khó, khó đến mấy chúng ta cũng phải giải bằng được. Chính vì vậy, sẽ phải "liệu cơm gắp mắm". Chúng ta sẽ triển khai những giải pháp trong khả năng mà chúng ta có thể để làm sao đưa ra được lời giải tốt nhất.  Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác đào tạo trẻ, Liên đoàn Điền kinh cùng với Bộ môn Điền kinh đã, đang nỗ lực hết mình nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu như: xây dựng kế hoạch đào tạo lâu dài, có tính chiến lược; mở các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho huấn luyện theo từng chuyên đề; tổ chức các buổi Hội thảo nhằm lấy ý kiến của các nhà chuyên môn... để công tác tuyển chọn và đào tạo trẻ tiếp tục phát huy được hiệu quả, hướng tới mục tiêu ở bất cứ thời điểm nào, Điền kinh Việt Nam luôn có một lực lượng vận động viên hùng hậu, đầy tài năng, sẵn sàng tham dự các giải đấu trong nước cũng như quốc tế.

Còn ở góc độ là một người làm công tác quản lý nhà nước, tôi mong muốn mỗi địa phương, mỗi Liên đoàn, Hiệp hội từ trung ương đến địa phương cần phát huy hơn nữa tính chủ động trong công tác chuyên môn, trong kêu gọi xã hội hóa nhằm làm phong phú hơn nguồn lực cho sự phát triển lâu dài của Điền kinh Việt Nam. Ngoài ra, bản thân bộ môn Điền kinh cũng cần nâng cao hơn nữa sự phối hợp đối với các ngành, cơ quan và đơn vị liên quan. Ví dụ, tăng cường phối hợp với Viện Khoa học Thể dục Thể thao trong việc ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác tuyển chọn và đào tạo vận động viên trẻ. Hiệu quả đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào nền khoa học kỹ thuật thể thao của mỗi quốc gia. Vì vậy, nhất thiết phải có sự can thiệp tích cực của khoa học và công nghệ vào công tác tuyển chọn và đào tạo vận động viên trẻ ở nước ta hiện nay, nếu không chúng ta sẽ không thể tiếp cận được với trình độ thể thao châu lục và thế giới. Về lâu dài, việc ứng dụng công nghệ và máy móc hiện đại vào quá trình tập luyện và thi đấu còn giúp kéo dài tuổi thi đấu, bảo vệ sức khỏe cho các vận động viên của chúng ta. Ngoài ra, các huấn luyện viên, những nhà làm chuyên môn cũng cần nâng cao trình độ ngoại ngữ nhằm chủ động tiếp cận với nguồn tài liệu, phương thức đổi mới từ các quốc gia có nền thể thao tiên tiến.

Phối hợp với Bộ Giáo dục Đào tạo trong công tác tuyển chọn và phát hiện những tài năng khi còn ít tuổi thông qua các giải thể thao trường học có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần đào tạo sớm lực lượng vận động viên tài năng cho thể thao Việt Nam. Bộ Giáo dục có vai trò rất lớn trong việc nâng cao nền tảng thể lực cho không chỉ vài trăm, nghìn vận động viên là học sinh, sinh viên mà là hàng triệu. Đó chính là nền tảng để thể thao thao Việt Nam có cơ sở để tuyển chọn, sàng lọc. Điều cuối cùng mà tôi mong muốn đó là sự thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của thể thao đối với sự phát triển của xã hội. Có như vậy thì ngành thể thao nói chung và môn Điền kinh nói riêng mới được quan tâm hơn nữa về mọi mặt. Ngành Giáo dục – Đào tạo cần phải có chiến lược phát triển thể chất cho học sinh ở tất cả các cấp học. Đồng hành với đó là các giải đấu phù hợp lứa tuổi, cấp học. Phải coi môn thể chất trong nhà trường là môn bắt buộc. Ngoài ra, nên khuyến khích, tăng chỉ tiêu đào tạo nước ngoài cho các vận động viên sau khi giải nghệ (đương nhiên là họ phải đảm bảo yêu cầu chuyên môn, ngoại ngữ…).

Lãnh đạo ngành Thể dục thể thao ở các địa phương phải coi trọng công tác đào tạo trẻ, dành đáng kể nguồn kinh phí cho công tác này, tiếp nhận các huấn luyện viên có năng lực, tăng chỉ tiêu đào tạo trẻ ở các trường năng khiếu Thể dục thể thao …

Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này và xin được chúc Điền kinh Việt Nam sẽ có được lực lượng kế cận hùng hậu trong thời gian không xa .

Thực hiện A.T

Print
701 Đánh giá bài viết này:
No rating

Contact author

x

Dữ liệu ngành

Sự kiện

Thư viện ảnh

Liên kết

TRANG TIN ĐIỆN TỬ THỂ DỤC THỂ THAO VIỆT NAM
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: TỔNG CỤC THỂ DỤC THỂ THAO
Giấy phép số: 559/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin cấp ngày 14/12/2004
Tổng biên tập: TS. Đàm Quốc Chính - Giám đốc Trung tâm Thông tin
Địa chỉ: 36 Trần Phú - Ba Đình - Hà Nội * Điện thoại: (84-24) 3747 3310 - 3747 2958 * FAX: (84-24) 3747 1981
Email:banbientap@tdtt.gov.vn Hỗ trợ kỹ thuật: support@tdtt.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.tdtt.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ trang này

 

CopyRight@ Trung tâm thông tin thể dục thể thao
Back To Top