TỔNG CỤC THỂ DỤC THỂ THAO
  1. TRANG CHỦ
  2. GIỚI THIỆU
  3. TIN TỨC SỰ KIỆN
  4. CHUYÊN NGÀNH
  5. ẢNH - VIDEO
  6. VĂN BẢN PHÁP QUY
  7. LIÊN HỆ

Thực trạng và đề xuất xây dựng phần mềm dinh dưỡng, tổ chức bữa ăn học đường tại Việt Nam

Tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em đã từng bước được cải thiện đáng kể. Theo thống kê của Viện Dinh dưỡng từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi toàn quốc giảm từ 29,3% xuống 19,6%, chuyển từ mức cao sang mức trung bình theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới.

IMG_4815.jpg

Cần quan tâm tới dinh dưỡng của trẻ không chỉ trong bữa ăn tại nhà trường mà còn cả các bữa ăn ở nhà
nhằm đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho trẻ (Ảnh: TN)

Ở Việt Nam, trong những năm qua công tác dinh dưỡng nói chung, dinh dưỡng học đường nói riêng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ và toàn thể xã hội. Ngày 28/04/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 641/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2030. Trong đó, một chương trình cụ thể của Đề án là phát triển thể lực, tầm vóc cho HS, thông qua chương trình dinh dưỡng học đường hợp lý. Ngày 22/02/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 226/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030, với mục tiêu trọng tâm là cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Nhờ nhũng quyết sách đúng đắn, kịp thời đó, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về cải thiện tình trạng dinh dưỡng.

Tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em đã từng bước được cải thiện đáng kể. Theo thống kê của Viện Dinh dưỡng từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi toàn quốc giảm từ 29,3% xuống 19,6%, chuyển từ mức cao sang mức trung bình theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới. Hiện tại vẫn còn sự khác biệt lớn về tình hình dinh dưỡng giữa các vùng, miền, nhất là giữa vùng thành thị, vùng đồng bằng với miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Theo các số liệu từ hệ thống giám sát dinh dưỡng năm 2019, vùng DTTS và miền núi có tỷ lệ SDD cao nhất so với trung bình cả nước nhất. Theo Ngân hành Thế giới và Viện Dinh dưỡng, DTTS ở Việt Nam thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu dinh dưỡng. Mặc dù tỷ lệ SDD toàn quốc đã giảm, tỷ lệ thấp còi ở trẻ em là người DTTS vẫn cao gấp 2 lần so với nhóm trẻ em là người Kinh (31,4% so với 15,0%), đồng thời tỷ lệ trẻ em là người DTTS nhẹ cân cũng cao hơn gấp 2,5 lần so với trẻ em là người dân tộc Kinh (21% so với 8,5%). Hơn nữa có tới hơn 60% số trẻ em bị SDD thể thấp còi ở 10 tỉnh thành có tỷ lệ thấp còi cao nhất cả nước là người DTTS.

Tình trạng thiếu vi chất như Vitamin A, sắt và kẽm ở trẻ em dưới 5 tuổi trong những năm qua đã được cải thiện nhiều nhưng kết quả vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra (15% năm 2020). Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng đến năm 2020, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam là 19,6%. Tỷ lệ thiếu Vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em dưới 5 tuổi ở là 9,5%. Tỷ lệ Vitamin A trong sữa mẹ thấp là 18,3%. Tỷ lệ thiếu kẽm đặc biệt rất cao ở trẻ dưới 5 tuổi là 58% năm 2020 xếp ở mức nặng nề về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Tất cả các tỷ lệ này đều chưa đạt được mục tiêu đặt ra về cải thiện tình trạng vi chất trẻ em của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020.

Tỷ lệ thừa cân béo phì (liên quan chặt chẽ đến chế độ ăn và vận động) đang có xu hướng gia tăng nhanh, nhất là ở khu vực thành thị. TCBP ở trẻ em dưới 5 tuổi là 7,4% (9,8% ở thành thị; 5,3% ở nông thôn)và rất cao ở mức 19% với trẻ em lứa tuổi học đường, so với tỷ lệ tương ứng năm 2010 là 5,6% và 8,5%. HS ở các TP có xu hướng tăng tiêu thụ các loại nước ngọt và thức ăn nhanh.

Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng về thực phẩm tiêu thụ tại các căng tin trường học của TP Hà Nội, TP Hồ Chính Minh, TP Đà Nẵng và tỉnh Lâm Đồng cho thấy: HSTH khu vực thành thị tiêu thụ nước giải khát là 28%, bánh kẹo 23%, món mặn là 41% (mì tôm và các món nướng, xào), trái cây 1% và sữa 7%. HSTH khu vực nông thôn tiêu thụ nước giải khát là 14%, bánh kẹo 41%, món mặn là 33% (mì tôm và các món nướng, xào), trái cây 4% và sữa 8%.

Gánh nặng kép về dinh dưỡng có xu hướng nghiêng mạnh về phía TCBP hơn SDD, tỷ lệ SDD nhẹ cân, gầy còm và thấp còi, chung của nhóm trẻ MN và TH của 10 tỉnh thành dưới 5% (được tính là không còn nguy cơ về SDD) và cần duy trì ở mức này. Riêng tỉnh Sơn La, tỷ lệ SDD nhẹ cân là trên 10% nhưng cũng xuất hiện TCBP. Tỷ lệ TCBP của 2 nhóm trẻ MN và HSTH đều rất cao, lầm lượt là 16,6% và 35,6%.

Đây là tình trạng báo động cần phải kiểm soát sớm bằng bữa ăn học đường, kết hợp với GD dinh dưỡng và GDTC. Đặc biệt cần chú ý tới sự cân bằng giữa bữa ăn ở trường và ở nhà. Đây là một thách thức mới, rất khó khăn trong cuộc chiến phòng chống và kiểm soát tình trạng TCBP đang tăng rất nhanh ở lữa tuổi học đường.

Tổ chức bữa ăn học đường còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Năm 2019 – 2020 đối với cấp học MN chỉ có 26.392 bếp ăn /55.335 cơ sở (gồm 15.461 trường, 23.960 điểm trường và 15.914 nhóm lớp độc lập). Gần 5.000 trường TH tổ chức bữa ăn bán trú cho học sinh (HS), trong đó có hơn 3.300 trường có bếp ăn tại trường, hơn 700 trường dùng bếp ăn công nghiệp. Nhưng trong đó, gần 40% số trường có bếp ăn tập thể, căng tin chưa đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm; tổ chức, quản lý và giám sát bữa ăn học đường còn nhiều hạn chế; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ công tác tổ chức bán trú còn nhiều khó khăn; nguồn nhân lực tổ chức bữa ăn bán trú đa phần là hợp đồng thời vụ và năng lực tổ chức bữa ăn học đường còn hạn chế; việc đầu tư xây dựng thực đơn, chất lượng bữa ăn dinh dưỡng hợp lý, đủ thành phần chưa được thực hiện tốt, chưa dựa trên nhu cầu năng lượng của lứa tuổi.

Ở các cơ sở GDMN, tổ chức bữa ăn học đường là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, vì vậy các trường đều có bếp ăn bán trú, tuy nhiên chưa có cán bộ chuyên trách được bài bản về dinh dưỡng, nên việc xây dựng thực đơn và tổ chức bữa ăn bán trú còn nhiều khó khăn. Mặt khác, một số trường ở vùng nông thôn và miền núi thì cơ sở vật chất còn hạn chế, mức đòng góp của phụ huynh còn thấp. Đào tạo nâng cao năng lực về dinh dưỡng chưa được thực hiện thường xuyên, nên việc tổ chức bữa ăn bán trú còn nhiều khó khăn.

Ở thời điểm trước can thiệp, hầu hết các trường đều đạt tiêu chuẩn về năng lượng và tỷ lệ các chất P:L:G theo quy định. Vi chất dinh dưỡng (canxi, sắt, kẽm và các Vitamin C) còn thấp chỉ đáp ứng khoảng 50-70% nhu cầu của bữa ăn bán trú tại trường. Đặc biệt tỷ lệ Ca/P của khẩu phần ăn rất thấp (0,3-0,5), làm giảm hấp thu và ảnh hưởng tới chuyển hóa canxi. Nguyên nhân có thể do, khẩu phần ở trường học chỉ mới đặt ra tiêu chí về năng lượng và tỷ lệ P:L:G chứ chưa có yêu cầu về vi chất dinh dưỡng. Thực đơn chưa đa dạng các loại thực phẩm (chưa đạt mức tiêu chuẩn của khuyến nghị về sự đa dạng); khẩu phần ăn rau củ của HS chỉ đạt từ 40 -60g (KN 80 – 120g).

Việc tổ chức hoạt động căng tin trong trường học còn chưa có các quy đinh, hướng dẫn kỹ thuật để các trường triển khai thực hiện. Điều này cũng ảnh hưởng đến hành vi dinh dưỡng hợp lý của các em HS.

Theo Tổng cục thống kê, trong tháng 11 năm 2020 cả nước có 90 vụ ngộ độc thực phẩm, với 2.254 người bị ngộ độc. Trong số này, có một số vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong các trường học gây ảnh hưởng tới sức khỏe học sinh và tạo ra tâm lý không yên tâm cho phụ huynh học sinh (PHHS). Chính vì như vậy, việc tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong các cơ sở Giáo dục hiện nay đang là vấn đề cấp bách được nghành giáo dục quan tâm và chỉ đạo.

Dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn trí tuệ của trẻ. Để đảm bảo sự phát triển toàn diện này cần sự nỗ lực từ phía phụ huynh và nhà trường, điều này càng khẳng định tầm quan trọng của bữa ăn học đường và nhất thiết phải xây dựng được thực đơn cân bằng dinh dưỡng cho trẻ em.

Hiện nay đã có nhiều giải pháp được đưa ra về việc xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng học đường. Tựu chung lại, các chuyên gia đều cho rằng: Phần mềm khi xây dựng cần dựa trên cơ sở khoa học để giúp cán bộ xây dựng thực đơn hằng ngày, hằng tuần được nhanh chóng, đảm bảo chế độ dinh dưỡng cân đối, đầy đủ cho các em. Việc áp dụng công nghệ tính toán là vô cùng quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng cho cán bộ xây dựng thực đơn. Việc tính toán bữa ăn bằng thủ công rất khó khăn thì nay phần mềm sẽ thể hiện toàn bộ khuyến cáo dinh dưỡng cần thiết cho các em như đạm, vitamin, khoáng chất…

Đó là đảm bảo tính khoa học và khả thi, phần mềm cần đáp ứng các tiêu chuẩn dinh dưỡng dành cho lứa tuổi tiểu học theo bảng nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho người Việt Nam đã được Bộ Y tế ban hành. Thực đơn có trên 10 loại thực phẩm (không kể gia vị), sử dụng phong phú nguồn cung cấp chất đạm động vật, thực vật, kết hợp nhiều loại rau củ quả khác nhau; hạn chế sử dụng thực phẩm đóng gói và chế biến sẵn…; Phần mềm xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của nhà trường rất cần phải có một công cụ hỗ trợ cán bộ phụ trách bán trú trong công tác lên thực đơn hằng ngày cho học sinh.

Ngoài ra, để ứng dụng thuần thục tại các trường, các cán bộ chuyên trách cần được tập huấn kỹ lưỡng. Song song đó là đảm bảo việc tuân thủ các yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm trong suốt quá trình chế biến./.

T.Nhu

Print
22 Đánh giá bài viết này:
No rating

Contact author

x

Sự kiện

Dữ liệu ngành

TRANG TIN ĐIỆN TỬ THỂ DỤC THỂ THAO VIỆT NAM
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: TỔNG CỤC THỂ DỤC THỂ THAO
Giấy phép số: 559/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin cấp ngày 14/12/2004
Tổng biên tập: TS. Đàm Quốc Chính - Giám đốc Trung tâm Thông tin
Địa chỉ: 36 Trần Phú - Ba Đình - Hà Nội * Điện thoại: (84-24) 3747 3310 - 3747 2958 * FAX: (84-24) 3747 1981
Email:banbientap@tdtt.gov.vn Hỗ trợ kỹ thuật: support@tdtt.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.tdtt.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ trang này

 

CopyRight@ Trung tâm thông tin thể dục thể thao
Back To Top